Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Ly kỳ chuyện thiền sư Việt hàn long mạch, phá trấn yểm của Cao Biền

Cao Biền, một bậc thầy phong thủy nhà Đường, khi đi sứ tới An Nam, nhận thấy làng Cổ Pháp là nơi sẽ sinh ra bậc đế vương, liền ra tay “cắt đứt long mạch”. Tuy nhiên, sự việc này đã không qua mắt được một vị thiền sư thời đó.

trấn yểm long mạch, phong thủy, cao biền,
Cao Biền, một bậc thầy phong thủy nổi tiếng nhà Đường. (Ảnh: Kiến thức Online)
Theo sách “Thiền Uyển tập anh” ghi chép thì vào thời nhà Đường ở Trung Quốc, vua Đường Ý Tông muốn xâm chiếm nước Nam, nhưng nhận thấy vùng đất nơi đây thời kỳ nào cũng có những nhân tài nổi lên. Vua Đường bèn tìm cách trấn yểm linh khí của nước Nam.
Năm Giáp Thân (864), vua Đường cho Cao Biền là một nhà phong thủy đại tài của Trung Quốc thời đó đến Giao Châu làm Tiết Độ Sứ. Khi đi, vua Đường dặn dò Cao Biền rằng:
“Trưng Thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cả cơ nghiệp nhà Đông Hán; rồi lại Triệu Ẩu, Lý Bôn … Làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh, e sau có biến. Khanh đến đó trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An Nam, đi và vẽ bản đồ về cho trẫm”.
Cao Biền đi khắp nơi xem xét địa thế và phát hiện có rất nhiều linh khí ở nước Nam. Khi cho xây thành Đại La bên sông Tô Lịch, biết đất ở làng Cổ Pháp có khí tượng Đế vương, Cao Biền đã cắt đứt long mạch nơi đây bằng cách đào đứt con sông Điềm (các nghiên cứu cho rằng có thể là sông Đuống ngày nay) và 19 điểm ở ao Phù Chẩn (thuộc làng Phù Chẩn, thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh).
Tuy nhiên, việc Cao Biền phá hoại phong thủy đã bị thiền sư nước Nam tiên đoán từ trước…
Câu chuyện bắt đầu từ thiền sư Định Không thuộc thế hệ thứ 8 thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi (diệt hỷ), ở chùa Thiện Chúng thuộc địa phận hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805), sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng đào được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất mới nằm im.
Sư giải thích rằng: Thập khẩu là chữ cổ, Thủy khứ là chữ Pháp. Còn thổ là chỉ vào hương ta. Nhân đó đổi tên hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp. Và có đọc hai câu thơ rằng:
Pháp khí xuất hiện thập khẩu đồng chung
Lý hưng vương tam phẩm thành công.
Dịch là:
Pháp khí hiện ra mười cái chung đồng
Họ Lý làm vua ba phẩm thành công.
Ngay từ trước khi Cao Biền nhận lệnh trấn yểm nước Nam thì năm 808, thiền sư Định Không đã cho gọi người kế tục mình là Thông Thiện đến dặn dò trước khi viên tịch rằng: “Ta muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh thì truyền lại. Thế là ý nguyện của ta được toại thành”.
Vậy là vị thiền sư đã tiên đoán được việc Cao Biền phá phong thủy, và việc người kế tục đệ tử của ông sẽ mang họ Đinh.
Sau này, sư Thông Thiện gặp một đệ tử rất thông minh là Đinh La Quý. Đoán biết đây là người kế tục mình nên ông đã truyền thụ hết các sở học cho đệ tử.
Theo dân gian thì ngài La Quý tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Ngài rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.
Thiền sư La Quý trụ trì chùa Song Lâm, làng Phù Linh, phủ Thiên Đức. Khi sắp tịch, Sư bảo đệ tử là Thiền Ông rằng: “Thuở trước Cao Biền xây thành (Đại La) bên sông Tô Lịch, vì biết vùng đất làng Cổ Pháp có khí tượng đế vương, nên cho đào đứt sông Diềm và những hồ ao liên hệ … đến mười chín chỗ mà yểm đó.
Nay ta đã sai Khúc Lãm lấp lại như xưa. Ta lại trồng một cây Miên (cây gạo) ở chùa Minh Châu để trấn chỗ bị đứt. Biết sau này ắt có vua hiền ra đời, để vun bồi chánh pháp. Sau khi ta tịch, ngươi nên đắp lên một nền đất, xây lên ngọn tháp, lấy pháp để kín trong ấy, chớ cho người thấy”.
Vậy việc nối lại khí tượng đế vương làng Cổ Pháp có tác dụng không? Vị đế vương làng Cổ Pháp là ai? Trong sách “Thiền Uyển tập anh” có ghi chép rằng, trước khi mất ngài La Quý có làm một bài thơ tiên đoán như sau:
Đại sơn long đầu khỉCù vĩ ẩn châu minhThập bát tử định thiềnMiên thọ hiện long hìnhThổ kê thử nguyệt nộiĐịnh kiên nhật xuất thanh
Dịch là:
Đại sơn đầu rồng ngửngĐuôi cù ẩn Châu minhThập bát tử định thànhBông gạo hiện long hìnhThỏ gà trong tháng chuộtNhất định thấy trời lên
Ở câu thứ 3 “thập bát tử” tức chữ thập (+), chữ bát (八), chữ tử (子) tạo thành chữ Lý (李) ý chỉ vị vua sau này mang họ Lý. Hai câu sau nói ra vị vua này lên ngôi vào tháng chuột (tháng 11) năm gà (tức năm dậu 1009). Vị vua mang họ Lý lên ngôi vua vào tháng 11 năm 1009 chính là vua Lý Công Uẩn.
Năm 1009, trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi, một tia sét lớn đánh vào cây bông gạo khiến cây bị gãy cành, nhưng cây không chết. Chính vì thế mà làng Diên Uẩn, Cổ Pháp còn gọi là làng Dương Lôi hay Đình Sấm. Có giả thiết cho rằng sự việc này cũng là do thầy phong thủy Trung Quốc làm.
Đúng như lời đoán trước khi mất của thiền sư La Quý, vua Lý Công Uẩn là người làng Cổ Pháp. Khi ông lên ngôi đã duy hộ Phật Pháp, dùng Phật Pháp để giáo hóa muôn dân, khiến đạo đức thăng hoa, xã hội ổn định. Kể từ đó, Đại Việt hùng mạnh, mở ra thời kỳ thịnh trị.
Sự lên ngôi của vua Lý Công Uẩn đã mở ra thời kỳ cường thịnh của Đại Việt, cũng cho thấy sự tài ba của các thiền sư Việt khi phá giải thuật phong thủy của Cao Biền.
Nguồn TinhHoa tổng hợp
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Bí mật giờ mới kể của nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới

Tờ The Mirror nổi tiếng của Anh mới đây đã đăng tải bài viết về Laura Lynne Jackson, người có thể “nói chuyện” với những đứa trẻ xấu số đã qua đời…

Đối với nhiều người, Laura Lynne Jackson là 1 người vô cùng kỳ lạ, bởi cô thường hay nói chuyện 1 mình. Đôi khi, họ lại tưởng cô bị điên. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là lúc Laura nói chuyện với những đứa trẻ không tồn tại.
Laura Lynne Jackson được cho là một nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới.
Laura được biết tới như là 1 nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới. Và cô được ví như chiếc cầu nối đặc biệt giúp nhiều bậc phụ huynh liên lạc với những đứa con đã chết của họ.
Laura tin rằng “thế giới bên kia” có tồn tại và đây là nơi sinh sống an toàn của các linh hồn. Tuy nhiên, không phải chỗ nào cô cũng có thể nói chuyện được với các linh hồn, mà chỉ khi ngồi vào ô tô thì khả năng của cô mới có thể phát huy.

Cô chia sẻ, mỗi khi bước vào xe ô tô cô lại có 1 cảm giác vô cùng đặc biệt. Cô nghe thấy những tiếng nói chuyện lạo xạo, những lời mô tả nho nhỏ và hình ảnh mờ mờ ảo ảo của rất nhiều đứa trẻ. Các bé đều muốn gặp cha mẹ của mình và nhờ cô giúp đỡ.
“Các bé như muốn nói rằng: “Tôi ở đây, tôi vẫn tồn tại trong cuộc sống của con người”. Nhiều lúc tôi phải nói với chúng rằng, hãy nói chậm và rõ ràng, vì chúng nói rất nhanh.”
Laura phát hiện ra khả năng đặc biệt này khi 11 tuổi. Đó là lúc mẹ của cô đến nghĩa trang thăm mộ ông cô. Laura đã đi cùng mẹ và đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy ông mình hiện ra trước mặt.

Vài năm sau, cô ngủ và nằm mơ đi chơi cùng với 1 nhóm bạn, trong đó có John Moncello. Nhưng trong giấc mơ, cô mơ thấy John bị ngã xuống 1 cái hố và chết. Và sự thật này sau đó đã xảy đến…
Lúc đó, Laura rất lo sợ, cô thực sự cảm thấy sợ khả năng của mình.

Khả năng nói chuyện với người chết từng khiến Laura Lynne Jackson rất lo sợ.
Thời gian trôi qua, cuối cùng, Laura đã trưởng thành và cô lại vui vẻ chấp nhận khả năng của mình. Cô tin rằng đây là một món quà mà chúa trời ban tặng.
Cô đồng ý để các nhà khoa học làm những thí nghiệm trên não mình để phục vụ nghiên cứu cho lĩnh vực tâm linh.

Laura Lynne Jackson giúp các em bé “bên kia thế giới” kết nối được với cha mẹ mình.
Đến nay, cô đã trở thành chiếc cầu nối hữu hiệu để truyền tải những thông điệp mà nhiều đứa trẻ muốn nói với cha mẹ mình. Đôi khi đó chỉ là những lời yêu thương, nhớ nhung mà những đứa trẻ muốn gửi đến cha mẹ chúng.
“Tôi nghĩ rằng tất cả những đứa trẻ mà chúng ta sinh ra đều có sự kết nối với chúng ta. Dù rằng không ít trong số chúng chết vì bệnh tật, tai nạn… hoặc thậm chí bị cha mẹ bỏ ngay khi chưa thành hình thì chúng vẫn dõi theo chúng ta.
Và nếu như thế giới thực của chúng ta không hoàn toàn an toàn cho chúng, thì ở thế giới bên kia chúng lại được an toàn và được chở che.”
Phương Thảo (Theo Mirror)
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Bùa chà kha

Xuất xứ từ Ấn Độ và đã truyền vào Thái Lan nhiều năm rồi, phái này thờ Thần Rắn còn gọi là Naga (cho nên những nét Bùa của Chà Kha uốn lượn như rắn). Căn bản cho người luyện Phép Chà Kha thì phải hội đủ 5 bài Kinh Chú, bao gồm: Kinh Tam Giáo, Thỉnh Tổ, Chú Hội Phép, Chú gọi Âm Binh, Kinh Cầu Nguyện, và cộng thêm10 chử Buà của 10 Vị Tổ trong bài Thỉnh Tổ (cho Thầy mỗi đêm luyện và uống). Buà Phép của Chà Kha rất nhạy bén và công dụng sài cho trăm việc như: thư ếm, chửa bệnh, trục tà, lên đài đấu, sên dầu thơm ăn nói, buà chú thương, gồng, .v.v.,

Thỉnh Tổ và Hội Phép như sau:

Thỉnh Tổ: Cam Cò Cây, Cam Manh Manh, Cam Hanh Phanh, Cam Mành Mảnh, Cam Mây Nghanh, Cam Manh Nghanh, Cam Sắc Xi, Cam So Rẹc, Cam Chuốt, Cam Phược.

Hội Phép: Bờ Ri Ti Ti Tích Nặc, Bờ Ri Tích Ti Na Nặc, Phắc Cu Bờ Rích Nặc, Sắc Phịch Phổ Nặc, Ô Mạc Ten Ka Bơ Ra, Quýt Sơn Manh Manh Lơn.

Công dụng của bài hội phép, ngoài luyện ra còn có thể sên buà và dùng cho những chử buà Chà Kha mà không có chú kèm theo. Đây chỉ là căn bản cho người nhập môn luyện pháp Cha Khà, còn biến hoá và sử dụng thì nhiều lắm .

.KINH HỘ THẦN CHÚ CHÀ HỘ ĐỘ:

Chú của Chà (Hồi Giáo) công dụng trừ thù oán , hoá giải mọi sự công kích hãm hại mình , làm cho kẻ thù quên đi mình , mỗi chiều chạng vạng em ra sân (lộ Thiên) , đọc 7 lần thổi mỗi hướng . Tuần tự đông , tây , nam , bắc ….... vị chi 28 lần tất cả . Làm chừng 3 đến 7 ngày thì hay rồi , nếu em là nữ làm 9 ngày càng tốt ! Trước khi đọc thổi nên vái qua như sau :
CẦU XIN ƠN TRÊN TRỜI , PHẬT , THẦY TỔ , MẸ SANH ME ĐỘ , TRÊN ĐẦU TRÊN CỔ , CỬU HUYỀN THẤT TỔ , BÊN NỘI BÊN NGOẠI , CẢM ỨNG CHỨNG MINH PHÙ HỘ cho con ( tên họ tuổi v.v….cầu xin…..) (3 lần)


Sau đó đọc Chú Chánh sau đây thổi 4 hướng , 7 lần thổi mỗi hướng :
A A CẮC TA
A LY CÂY NA
CẮC TA NA BI
MA TY CẮC TA
A LO IN LA MÔ HA MÁCH
DA HU A CU BA XI .

Trong thời gian cầu tránh không ăn thịt heo tốt hơn , và câu này còn công dụng ra Tòa , kiện tụng , Quan Tư tất thắng.
. KINH HỘ SẮC LỆNH CẦU THƯỢNG ĐẾ- TỔ CHÀ:
Bís mi la hia rét ma nia ra him
A hu du bi ca ly ma tin la hi ta ma ti min colt y sạc ry ma kha lắc

Tướng Chà trừ tà, thư ếm đọc vái thổi vô nước cho uống và sên vô gạo
( không muối ) dải dưới giường bệnh nhân đó. Sáng dậy và trước khi đi ngủ mỗi ngày chỉ cần đọc 21 lần, khi đọc mặt xoay về hướng Tây, hôm nào mình làm bịnh mà dùng tới Chú này thì đừng ăn thịt heo.
Trước khi làm phép cầu Tổ Chà:

ÔNG HA LY ở tay mặt
ÔNG BU CÁCH ở tay trái
ÔNG U MƠI ở trán
ÔNG U SA MĂN ở ót
ÔNG TỔ CHÂU GIANG ở Cù Lao Ba tiếp độ cho đệ tử v.v…...
(Vái 3 lần như trên)
. KINH HỘ HÒA HỢP NAM NỮ-TRỪ KHẮC KHẨU:
Chử nầy có gốc Chà Hồi,vẻ màu đen vô khăn trắng có dầu thơm, lau miệng nói chuyện với bá xả cho không khắc khẩu nhau,thần chú : Bís mi la-ma na xê mô on lot. 

1. Nguồn gốc

Môn phái Trà Kha có nguồn gốc ở Phật giáo. Phật tổ khi còn mang xác tục, đi truyền giáo trong những thâm sơn cùng cốc, gặp nhiều cái nguy hiểm trở ngại gây ra bởi lòng tàn khốc của thổ dân. Thôi thì đủ thứ gian truân khổ ải : bị đánh đập, bị đâm chém. Tránh được lòng độc ác của con người thì lại sa vào nanh vuốt của thú dữ.

Ngọc Hoàng thượng đế thấy vậy mủi lòng thương, sai ba vị thần tướng xuống ủng hộ để diệt người ác, thú độc và giúp Phật tổ làm tròn sứ mệnh thiêng liêng là cứu vớt chúng sinh. Ba vị thần tướng đội lốt rắn khi ẩn khi hiện theo sau Phật tổ. Nhưng lòng lành của Phật tổ đã tràn ngập trong vạn vật đến nỗi Phật thương xót cả kẻ ác đã hại mình. Mỗi khi ba vị thần tướng quá tay làm hại một sinh mệnh là Phật lại sa nước mắt cầu thượng đế tha thứ cho kẻ ngu dại.

Thấy vậy ngọc hoàng phán cho 3 vị thần tướng phải truyền cho Phật một phép để hộ thân, chỉ để giữ mình mà thôi. Ba vị tuân mệnh dở phép thần thông khiến cho khi Phật bị đánh đập, đâm chém cũng không việc gì. Ba vị dưới lốt rắn quằn mình uốn khúc làm thành những hình thù kỳ lạ, Phật ghi chép lại những hình ấy và vẽ lại làm bùa. Ba vị truyền cho Phật những câu thần chú mà sau đó Phật gọi là kinh.

* Bùa Trà Kha : cái nào cũng như hình rắn uốn mình. Vẽ bằng son đỏ trên giấy vàng vì khi ba vị thần tướng dưới lốt rắn đỏ, quằn mình thành hình bùa trên bãi đất vàng.

* Kinh : tức là những câu thần chú, tuy nhiên kinh khác chú ở chỗ tha hồ lưỡi chạm răng.

* Cầu tổ : Đệ tử phải thành tâm tin tưởng thì có thể cầu Tổ được. Khi cầu Tổ nhập vào mình thì người sẽ mê đi, tay chân run động như có một linh hồn nhập vào mình. Đặc điểm của Trà Kha, khi cầu Tổ được thì người học cứ lao mình đi và phun phì phì như rắn. tuy nhiên không phải ai cũng cầu Tổ được dễ dàng.

: Tuy Trà Kha có gốc từ Phật giáo, nhưng không phải kiêng nhiều thứ khắt khe. Đệ tử Trà kha không được ăn các vật về loài bò sát, các thứ cá không vây, khế. Về cơ bản, thêm những điều kiêng cữ như các môn phái khác ( trâu, chó, rắn, rùa, baba, cá chép, đồ tanh, đồ sống ). Theo lời truyền, vì hóa thân của ba vị thần tướng là rắn, nên đương nhiên rắn tuyệt đối không được ăn, sát sinh. Và khi ba vị thần tướng thoát xác rắn thì trên cây khế, nên khế cũng không được ăn. Các đạo phù Trà kha không được xăm vào thân thể. Trong Trà kha, có thể dùng ngải cũng được. Binh Trà kha cúng chay, hay dùng 5 trái trứng luộc mà thôi + gạo, muối, nổ.
Интернет реклама
* Tranh Tổ : Để trên ban thờ như ta thờ bài vị. Tranh Tổ thể hiện cho ta một ý tưởng về gốc tích của Trà Kha. Có tranh trên vẽ Phật tổ từ bi, dưới có 3 ông rắn...hoặc thờ đạo bùa Tổ.
* Lễ vật : Bao giờ cũng cúng chay và đơn giản : Một cục than, một đĩa bỏng, một nải chuối, một đĩa hoa, một chén nước trong, 9 ngọn nến, 9 cây hương. Hoa cúng Phật, chuối, bỏng và than để cúng 3 vị thần tướng. Các loài vật tu có thể thành chính quả. Rắn - bụt không bao giờ ăn sinh vật, chỉ ăn than và các thứ hoa quả.
* Lời thề : Nhập môn Trà kha phải lập thệ trước ban thờ Tổ. Xưng tên tuổi, xin học phép Trà Kha và thề làm việc nhân đạo, giúp mình giúp đời, không bao giờ ỷ có phép Trà Kha làm điều sai quấy. Nếu trái lời thề xin Tổ thu phép và trừng phạt, không dám ân hận. 
Phần 2 : Truyền phép - lễ nhập môn
Thầy Trà Kha truyền phép cho đệ tử nhập môn trong 6 lần : sáu tối hoặc 3 ngày, mỗi ngày 2 lần. Muốn đơn giản có thể rút lại làm 2 ngày, như thế thì 3 buổi cuối cùng thư vào một buổi. Cũng không có hại gì cho người đệ tử và cho sự linh nghiệm cả, chỉ hơi khó nhọc cho người dạy.
Người đệ tử nếu chịu luyện cho đến cầu tổ được mà tính nết hết sức tốt thì thày sau khi xem xét kỹ, có thể làm lễ xuất sư cho, có nghĩa là được phép làm thầy.
* Khoán bùa : Có 2 cách khoán bùa : khoán trên giấy và khoán vào mình đệ tử. Vẽ bùa trên giấy rồi đốt một cây hương, họa bóng theo hình bùa, mồm đọc chú. Khoán vào người thì khoán đầu, ngực lưng, tay chân. Uống bao nhiêu bùa phải khoán bấy nhiêu. Cũng cần cây hương đang cháy và vẽ bùa trên mặt da. Như thế phải thuộc bùa lắm.
Khi khoán bùa phải hết sức tưởng Tổ, nghĩa là hết sức tập trung nghĩ vào việc mình làm, lúc khoán xong thì tưởng tượng tổ đã nhập vào mình rồi ngậm hơi thổi mạnh vào giấy bùa hay chỗ khoán trên mình.
Đệ tử phải mua 4 thước vải trắng và 2 thước vải đen. Thầy luyện phép vào vải để dùng khi truyền phép. Vải ấy sau này người dạy chôn một nơi như để yểm cho phép được lâu bền. Khi truyền phép thì vải trắng xếp dài quấn ngang cổ đệ tử, vải đen giải dưới chân.
Tối thứ nhất : Sau khi đã bày lễ vật, thiết lập ban thờ, thắp đèn, hương , nến, đọc kinh cầu Tổ

Kinh cầu Tổ 1
Bờ ri ti ti tít nặc
Bờ ri tít ti na nặc
Thách cu bờ rít nặc
Xắc phích lịch phổ nặc

Kinh cầu Tổ 2
Bờ ra tít ít xắc nặc
Bờ ra xao ti ni phịch mặc
Bờ ra chôn xắc xắc nặc
Bờ ra xây tha na mặc nặc
Bờ ra chôn bờ ruy dặc nặc

Trong tối thứ 3 này, đốt những bùa này ra tro, hòa với dầu lạc. Thầy ngậm dầu này vào mồm phun và thoa khắp người đệ tử. Sau một ngày mới được tắm rửa để không mất dầu. Theo lời truyền lại phải phun dầu để giữ cho những bùa mình đã uống còn mãi trong cơ thể, cho sự linh ứng huyền bí không mất đi được. Như thế, phun dầu rất quan trọng trong thời gian nhập môn.

Ngày đăng:
Lần 1: 12:59 ngày 21/09/2014
Lần 2: 12:59 ngày 29/03/2017
-->đọc tiếp...

Giai thoại lịch sử: Phật quang núi Phổ Đà đuổi lính Nhật tháo chạy.


Phổ Đà Sơn cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn nằm trong biển Đông Nam, huyện Định Hải, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

Ngọn núi dài mười hai dặm, rộng sáu dặm rưỡi, chu vi hơn bốn mươi dặm. Phía đông dẫn đến Nhật Bản, phía bắc tiếp với Đăng Lai, phía nam trông về Mân Việt, phía tây thông với Ngô Hội, cách mực nước biển hơn một ngàn thước, khí hậu ôn hòa, phong cảnh u nhã đặc biệt, là Thánh địa Phật giáo Trung Quốc. Ngọn núi này cùng với Nga Mi Sơn của Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn của Sơn Tây và Cửu Hoa Sơn của An Huy hợp lại xưng là Tứ Đại Danh Sơn của Trung Quốc.
Tương truyền, đây là nơi đầu tiên Quán Thế Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh. Theo truyền thuyết Trung Quốc, Quán Thế Âm Bồ Tát vốn tên là Diệu Thiện, là con gái thứ ba của Sở Trang Vương thời Xuân Thu, từ nhỏ ăn chay tin Phật, một lòng xuống tóc đi tu, nhưng bị vua cha kiên quyết bác bỏ rồi giết chết. Nhưng Diêm Vương lại làm cho nàng sống lại trên một tòa sen trên chiếc hồ cạnh Phổ Đà sơn. Tại đây bà phổ độ chúng sinh, hành thiện giúp thiên hạ.
Có một truyền thuyết rất nổi tiếng, kể rằng vào năm 858, cao tăng người Nhật là Tuệ Ngạc thỉnh một bức tượng Quan Âm Bồ Tát từ núi Ngũ Đài lên tàu đưa về nước. Nhưng khi đi qua núi Phổ Đà thì bất ngờ trên mặt biển xuất hiện hàng lớp hoa sen làm tàu không đi được.
Cao tăng Tuệ Ngạc thầm hiểu Quan Âm không muốn sang Nhật Bản, ông liền chuyển bức tượng vào gần động Triều Âm ở trên đảo cho một ngư dân họ Trương thờ cúng, sau đó lại dựng lên một ngôi chùa, gọi là “Chùa Quan Âm không muốn đi”.
Kể từ đó núi Phổ Đà trở thành đạo trường thờ Quan Âm Bồ Tát, hương hỏa không dứt. Trải qua thời gian, chùa chiền mọc lên ngày càng nhiều. Vào thời thịnh nhất, toàn vùng núi có 4 ngôi chùa lớn, 106 am, hơn 4.654 nhà tu, lịch sử gọi là “Chấn Đán đệ nhất Phật quốc”.
Trong kiệt tác “Tây du ký” có đoạn tả cảnh khi Tôn Ngộ Không đến núi Phổ Đà bái kiến Quan Âm Bồ Tát như sau: “Nhưng nhìn kìa, đại dương mênh mông, thế nước đến trời. Tường quang lồng vũ trụ, khí lành chiếu non sông. Ngàn tầng sóng gào đến trời xanh, vạn lớp yên ba cuồn cuộn giữa trưa ngày…”.
Trong “Tây du ký” cũng từng tả lại cảnh Tôn Ngộ Không nhìn thấy Phật quang ở núi Phổ Đà, đây không phải chuyện thần thoại tự dựng lên mà trong hiện thực cũng nhiều lần xuất hiện. Theo sử sách ghi lại, đã từng có lần Phật quang núi Phổ Đà đuổi quân Nhật xâm lược tháo chạy.
Câu chuyện xảy ra vào tháng 7/1944, giai đoạn cuối thời chiến tranh chống Nhật. Lúc đó có khoảng 8.000 quân xâm lược Nhật Bản đổ bộ lên núi Phổ Đà. Đám lính làm trại ở bãi biển, phá hoại di tích, quấy rối người dân, giết mổ gia súc, gây nên một đại họa nơi thánh địa Phật giáo này. Những người dân không chịu nổi phải trốn vào trong chùa.
Vào một buổi tối, những đài hoa sen ở xa xa trên biển bỗng lấp lánh ánh đèn. Quân Nhật tưởng tàu chiến quân Mỹ tập kích vội dùng đèn thăm dò quét qua mặt biển nhưng lại không thấy gì. Một lúc sau, đèn đuốc trên biển ngày càng nhiều, nằm rải rác khắp mặt biển. Quân Nhật nghi hạm đội Thái Bình Dương của quân Mỹ tấn công, liền cho bắn đại bác tới tấp, tiếng đại bác làm chấn động khắp khu đảo, thế nhưng “quân địch” không có phản ứng gì.
“Đèn đuốc” theo thủy triều cuồn cuộn dâng đến, chiếu rõ mặt người trên bờ, nhưng không vào bờ. Lúc này quân Nhật tin vì mình làm rối loạn núi Phổ Đà, đắc tội với Quan Âm Bồ Tát nên đã quỳ rạp trên bờ biển rập đầu cầu xin Bồ Tát tha tội, sau đó hốt hoảng tháo chạy khỏi đất Phật. Mọi người dân khi đó đều nhận thấy đây là do “Bồ Tát phù hộ”, câu chuyện trở thành một giai thoại nổi tiếng lưu truyền đến ngày nay.
Khanhnguyen' s Blog sưu tập
Nguồn: Cộng đồng Phật Giáo Dấn Thân - Mạng XH Google Chủ nhân Cộng đồng: Phạm Ngọc Hải
-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Câu chuyện “tái sinh” kỳ lạ và bí ẩn chưa có lời giải đáp


Câu chuyện thứ 1: Ngày 29/04/2005, vợ chồng anh Chaudhary sống tại Ấn Độ đã vô cùng đau xót khi đứa con trai 13 tuổi tên là Rakesh bị tai nạn xe máy và mất 5 ngày sau đó. Vài giờ trước khi Rakesh qua đời, vợ anh Chaudhary là cô Minaben bắt đầu có ảo giác, cô nói với chồng là Rakesh về nhà muốn tạm biệt mẹ và hứa sẽ quay lại.
Một năm sau đó, vào ngày 22/04/2006, cô Minaben sinh hạ một bé trai và đặt tên con là Rakesh. Rakesh và người anh đã mất giống nhau như đúc, và có cách cư xử giống hệt nhau. Điểm đặc biệt hơn là cậu biết tất cả những chỗ anh trai mình để đồ chơi, nhận ra những người họ hàng chưa bao giờ gặp.
Không chỉ có vậy, khi được đưa về quê của anh Chuadhary ở Palanpur, cậu bé cũng biết luôn tên của người chị họ Anila mới gặp lần đầu, cô bé này vốn ngày xưa là bạn thân của người anh trai đã mất của cậu. Rakesh cũng rủ cô bé chạy ra cái cây nơi 2 người thường chơi với nhau ngày xưa.
Câu chuyện thứ 2: Cô bé Samlini Permac sinh năm 1962 ở Colombo, Sri Lanka vô cùng sợ nước và ô tô. Mỗi lần phải tắm cô đều la khóc dữ dội. Cô bé sau đó kể lại quãng đời "kiếp trước" của mình, khi đi mua bánh mì vào thời điểm phố xá ngập lụt, bỗng có một chiếc xe buýt đi sát bên cạnh đã hất em xuống nước.
Em chỉ kịp giơ tay lên cầu cứu và hét lên "Mẹ ơi" rồi chìm hẳn vào giấc ngủ. Gia đình của cô bé rất bất ngờ và họ bắt đầu tìm hiểu thêm về những vụ việc tương tự như thế đã từng xảy ra ở đâu, và sau một thời gian hai người biết được câu chuyện một cô bé 11 tuổi từng chết đuối trong hoàn cảnh như thế, tất nhiên là từ khi Samlini chưa ra đời.
Câu chuyện thứ 3: Một sự việc nữa cũng khiến khoa học đau đầu, đó là sự việc diễn ra tại làng Nathul, phía Bắc Miến Điện. Cô gái MTin Aung Myo sinh ngày 26 tháng 12 năm 1953 trong một gia đình có 3 chị em gái. Ngay từ nhỏ, cô bé luôn tỏ ra mình là con trai, và luôn miệng nói rằng là người lính Nhật đã bị quân đồng minh bắn chết cách ngôi nhà của cha mẹ cô bé gần100m.
Cô bé rất sợ máy bay, nhất định không chịu mặc đồ con gái, nói tiếng Miến Điện rất khó khăn, thích ăn và nấu các món ăn theo khẩu vị của Nhật, và cô luôn tỏ ra buồn bã vì nhớ quê hương Nhật Bản của mình. Ma Tin Aung Myo cho biết gia đình "kiếp trước" của cô ở miền Bắc nước Nhật, trước khi nhập ngũ, "cô" là chủ một cửa hiệu nhỏ nhưng khi vào lính thì làm đầu bếp.
Nhưng cô bé không nhớ một tên tuổi hay địa danh nào cả và cũng không chịu kết hôn, bởi theo cô, cô là một người đàn ông và chỉ kết hôn với phụ nữ mà thôi.
Câu chuyện thứ 4: Chaokun Radzh-sutadzharn, sinh ngày 12/10/1908 ở miền Trung Thái Lan. Cha của cậu là Nai Pae, mẹ là Nang Rieng, tên thường gọi là Choti. Ngay từ khi biết nói, cậu bé đã cho mọi người biết mình là Nai Leng, người bác ruột đã mất khi cậu bé ra đời.
Đáng chú ý là cậu có cách gõ bàn hệt như ông bác, có thể nói và đọc được các thứ tiếng mà ông bác lúc sinh thời từng học, và ngoài ra biết chính xác từng chi tiết một trong cuộc đời ông bác ruột của mình. Sau này Choti đi tu ở một ngôi chùa ở Băng Cốc và sau đó xuất bản cuốn sách về sự luân hồi này.
Câu chuyện thứ 5: Anh Tân và chị Thuận cưới nhau được 6 năm mới sinh được cháu Nguyễn Phú Quyết Tiến (28/02/1992). Cháu Tiến lớn lên bụ bẫm, xinh xắn, trong sự yêu chiều hết mực của cả gia đình. Thế nhưng, đến năm cháu 5 tuổi, tai họa bất ngờ ập xuống.
Hôm đó vào buổi chiều tháng Giêng, anh Tiến đang nằm đọc báo bỗng giật nảy mình chồm dậy, ruột gan như lửa đốt. Anh gọi chị Tân bảo: “Thằng Tiến đâu, tìm nó về đi”. Chị Tân tìm gọi mãi nhưng không thấy Tiến đáp lại, ra phía bờ sông gần nhà chị chỉ nhìn thấy đôi dép cháu để trên bờ. Dưới dòng nước xanh ngắt nhìn thấu tận đáy, không thấy điều gì bất thường. Chị chạy về báo anh Tân. Bỏ tờ báo, anh hớt hải ra phía bờ sông thì nhìn thấy xác cháu Tiến nổi cách bờ 3m.
“Tôi lao xuống dòng nước, ôm chặt lấy con nhấc lên bờ. Nhưng tất cả đã quá muộn!”, giọng anh lạc đi, không giấu vẻ kinh hoàng khi nhớ về cái ngày đau thương ấy.
Cháu Tiến mất đi khiến cả anh Tân, chị Thuận đều như kẻ mất hồn. Nỗi đau càng nhân lên gấp bội khi chị Thuận do vấn đề sức khỏe đã “không còn khả năng làm mẹ” nữa. Trong cơn vật vã, bà cụ hàng xóm mà sau này anh Tân mới biết là “bà mế” có sang vỗ vai anh và bảo: “Con yên tâm, sớm muộn gì nó cũng tìm về với con thôi!”. Khi ấy vì quá đau buồn anh cũng coi lời bà như lời an ủi của những người hàng xóm tốt bụng khác.
Vắng tiếng cười trẻ thơ, căn nhà chỉ còn hai người lớn trở nên hoang lạnh hơn bao giờ hết. Là con một, phải chịu áp lực từ phía gia đình, anh Tân buồn bã chả thiết làm gì, suốt ngày ngơ ngẩn gần như người hóa dại.
Năm 2006, cả hai vợ chồng vẫn chưa nguôi nỗi đau mất con thì nghe có người rỉ tai ở Xóm Cọi, xã Yên Phú, Lạc Sơn, cách nhà anh chị chừng 3km có cháu bé nghi là “con lộn” của Tiến. Cháu tên Bùi Lạc Bình (sinh ngày 06/10/2002) là con một gia đình người Mường nhưng ngay từ khi biết nói đã khăng khăng bảo mình là con người Kinh, nhà trên thị trấn Vụ Bản.
Vốn chưa bao giờ tin có chuyện “đầu thai” như kiếp luân hồi của nhà Phật, nhưng hai anh chị vẫn đánh bạo tìm đến nhà cháu bé nọ. Thật bất ngờ khi anh chị đến nơi cháu không hề thấy lạ mà gọi bố mẹ xưng con và quấn quít không rời. Anh chị ngỏ lời mời chị Dự, người sinh cháu Bình, tên bố mẹ “mới” đặt, đến nhà chơi. Nghe thấy thế, Bình vui lắm, trèo phắt lên xe hào hứng như đứa trẻ lâu ngày được về nhà.
Vừa vào nhà, Bình đã chạy quanh nhà tìm đồ chơi mà Tiến trước kia thích. Cháu còn tự nhiên vào giường anh Tân, chị Thuận nằm lên đó rồi bi bô: “Ngày xưa con thường ngủ chỗ này nhỉ bố nhỉ?”. “Ngay khi nhìn thấy cháu, nghe cháu nói, và thấy những hàng động của cháu vợ chồng tôi như chết đứng. Tất cả đều giống hệt như cháu Tiến thủa trước, có khác chỉ là khác về hình hài mà thôi”, anh Tân kể.
Kể từ ngày gặp cháu Bình thì ăn ngủ chẳng yên bởi giữa hai người với đứa trẻ xa lạ dường như có mối thâm tình gì đó day dứt lắm. Nhớ cháu, thương cháu nhưng lại sợ người ngoài bảo muốn cướp con. Vợ chồng anh hiếm muộn, nhưng vợ chồng chị Dự-anh Hoan cũng chỉ có duy nhất cháu Bình là con.
Về phần chị Dự, sau lần đến chơi nhà ấy, cháu Bình cứ nằng nặc đòi về “nhà bố mẹ”. Thấy con nhèo nhẹo khóc, chị Dự cũng không biết phải làm sao. Đưa cháu về nhà anh Tân, chị Thuận chơi thì sợ người ta dị nghị là “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Nhưng sau một lần Bình bị ốm nặng, sốt cao, cháu cứ luôn miệng “dọa”: “Mẹ không cho con về, con lại chết lần nữa!”. Hoảng quá, lần này chị đánh liều gọi cho anh Tân đưa cháu về nhà chơi. Cháu Bình về nhà anh thì khỏe khoắn, vui vẻ, không còn đau ốm nữa.
“Thấy cháu tha thiết quá, sau bao đắn đo chúng tôi dè dặt đề nghị gia đình anh Hoan, chị Dự cho cháu về ở với chúng tôi. Thật bất ngờ là cả vợ chồng anh chị và bà nội cháu đều gật đầu đồng ý. Chính bà nội cháu cũng bảo rằng: Ngay từ lúc thằng bé biết nói tôi đã biết nó không phải người Mường rồi”, anh Tân nói.
Theo lời anh Tân, kể từ ngày cháu về với anh chị, hết lần này đến lần khác hai người “thử” cháu. Thậm chí, nhiều người hàng xóm cũng sang nhà để “hỏi chuyện ngày xưa”. Tất cả cháu đều trả lời vanh vách. Từ tên bác hàng xóm, đến cô giáo mẫu giáo rồi bạn bè thân của cháu, cháu đều nhớ tên. Đường về nhà, hay những câu chuyện nhỏ nhặt như ngày xưa bà nội cho cháu uống bia ở đầu làng cháu cũng nhắc lại, ngay cả việc, “cháu đã từng chết như thế nào, bị ngã xuống nước ra sao”…
“Dù trước đó, chưa một lần tin có chuyện “hoang đường” như thế, nhưng đến lúc ấy cả vợ chồng tôi đều hoàn toàn tin rằng Bình chính là cháu Tiến, con chúng tôi 10 năm về trước”, anh Tân kể.
Từ ngày về ở với anh chị Tân, Thuận, Bình nằng nặc đòi gọi tên là Tiến, ngay cả tên đệm cháu cũng đòi giữ.
“Hãy coi con cháu những đứa trẻ bình thường”
Bé Tiến bây giờ đã bước sang tuổi thứ 9. Cháu trắng trẻo, khôi ngô, ngoan và lễ phép nhưng cũng hiếu động hệt như những đứa trẻ cùng trang lứa khác. Khi chúng tôi ngồi nghe anh Tân kể chuyện thì Tiến không ngừng nô đùa trước sân, chọc tổ ong khiến anh Tân mấy bận phải đứng dậy nạt cháu.
Câu chuyện dang dở thì chị Thuận mẹ cháu về, thoáng qua những dè dặt ban đầu, nhắc đến con chị cười nói xởi lởi lắm. Lần dở từng trang sách của cháu, đôi mắt chị vẫn ánh lên niềm hạnh phúc vô hạn: “Cháu đi học mấy năm liền đều đạt học sinh giỏi…”. Rồi chuyện trường, chuyện lớp, chuyện nghịch ngợm của trẻ nhỏ làm bầu không khí rộn ràng hẳn lên.
Mải chuyện đã quá trưa tự lúc nào, chị Thuận giữ chúng tôi ở lại ăn cơm, chúng tôi cũng vui vẻ đồng ý. Khi mâm cơm đã dọn tinh tươm, Tiến vẫn đứng ngoài sân mê mải đọc cuốn Hương Hiếu Hạnh của nhà sư Thích Tâm Hiệp viết về trường hợp “đầu thai” của Tiến. Nghe anh Tân bảo, nhà sư sau khi nghe câu chuyện của Tiến đã viết một bài in trong tập sách Hương Hiếu Hạnh và tặng anh chị một cuốn. Từ lúc rõ mặt chữ, Tiến lúc nào cũng cầm cuốn sách và đọc đi đọc lại câu chuyện kể về mình. Những câu chuyện ngày xưa cháu cũng dần quên.
Tôi đứng dậy gọi Tiến vào ăn cơm thì bất chợt cậu bé nắm tay tôi lắc lắc, chỉ ra phía con sông sau nhà: “Cô ơi, ngày xưa cháu chết ở kia kìa”. Dù đã nghe câu chuyện của cháu nhưng câu nói bất chợt của Tiến vẫn khiến tôi lạnh sống lưng.
Hiện giờ, Cháu Tiến giờ ở nhà tôi với tư cách là “con nuôi”. Cháu vẫn thường xuyên qua lại nhà mẹ đẻ…”.
Câu chuyện thứ 6: Ông Glenn Ford được thôi miên. Ông này không tin gì cả, ông nói ông không tin ở chuyện quá khứ, đầu thai. Nhưng ông đã nói ra đến năm kiếp khác nhau trong 5 sessions, 4 kiếp không kiểm chứng được nhưng có 1 kiếp kiểm chứng được. Đó là kiếp trong đó ông nói tiếng Pháp rất hay, một loại tiếng Pháp đặc biệt rất xưa. Khi nghe ông nói tiếng Pháp, BS mới hỏi ông đẻ ở đâu, làm gì thì ông trả lời tôi đẻ ở Paris, làm lính calvary, tức ngự lâm pháo thủ, làm ở triều vua Louis 14. Người ta đã thu lại băng ông nói chuyện. Chuyện này rất đặc biệt vì ông Glenn Ford này cả đời không hề biết tiếng Pháp. Người ta mới bảo ông diễn tả thành phố Paris. Trong lúc bị thôi miên, ông tả thành phố Paris như vậy như vậy... Họ lấy bản đồ thế kỷ 17 so sánh thì có đúng những con đường đó. Nhưng độc đáo hơn là mấy năm sau họ đem băng này nghe lại, trong số người nghe có một chuyên gia về ngôn ngữ Pháp. Ông này rất ngạc nhiên vì accent của ông Glenn Ford này là accent thế kỷ 17 và những danh từ ông dùng cũng là danh từ thế kỷ 17, bây giờ không ai dùng nữa cả. Độc đáo như vậy. Thành ra cái chuyện triết lý hồi nãy mình nói mình đi, sống, chết, đầu thai lại, chuyện đó có thiệt chứ không phải giả.
Câu chuyện thứ 7: Cách đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng Phật kính Tăng, nên các sư thường đến ghé thăm, có khi được mời nghỉ đêm tại nhà. Thời đó, ảnh hưởng chánh pháp chưa được lan rộng, tuy cô đã thọ quy giới nhưng chưa hiểu rõ về đạo, nên trong nhà cũng có nuôi heo để thêm rộng rãi cho cuộc sống. Khi nọ, có một vị Hòa thượng đến nghỉ đêm tại nhà cô, nửa đêm chợt thức giấc nghe tiếng động dưới bộ ván mình nằm, và có giọng nói nho nhỏ rằng: "Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị Hòa (vì liên hệ gia đình xin giấu tên) bởi có thiếu bà chủ nhà này một số tiền, nên phải đầu thai ra thân xúc vật để trả nợ". Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú.
Sáng ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:
- Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền như thế, có phải không?
- Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã qua đời, nên con kể như bỏ luôn. Ủa! Mà chuyện này chỉ riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay, tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy?
Hòa thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh, vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con, thì thêm một việc lạ, số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa đã thiếu mình khi trước.
Trải qua sự này, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả hiển nhiên là có thật. Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và cải gia vi tự, thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ. Tại chùa này, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức đã bảo: "Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi cổ đáo kim!" (Súc sanh kia trước là người. Xưa nay người, súc luân hồi đổi thay!) Việc trên đây là một chứng minh cho lời này vậy. (Thuật theo lời Thượng tọa Thanh Từ, khi Thượng tọa đến diễn giảng và thăm chùa Phước Trường ở Thủ Ðức

Nguồn http://thienphatvien.com
-->đọc tiếp...